Hồng táo hữu cơ Thiên Lương – siêu thực phẩm cho não bộ

Hồng táo hữu cơ Thiên Lương

Hồng táo (Tên gọi chung: Táo tàu. Tên khoa học: Ziziphus jujuba)

Đánh giá về trái Ziziphus jujuba (Jujube): Phát triển thực phẩm bổ sung sức khỏe để bảo vệ não bộ

Các tác giả: Jianping Chen, 1 Xiaoyan Liu, 1 Zhonggui Li, 1 Airong Qi, 1 Ping Yao, 2 Zhongyu Zhou, 2 , 3 Tina T. X. Dong, 2 , 3 and Karl W. K. Tsim 2 , 3 , *

Tóm tắt

Những trái cây thuộc họ Ziziphus jujuba, được biết tới là hồng táo hoặc táo tàu (chà là Trung Quốc), đang được tiêu thụ trên toàn thế giới như cả thực phẩm và thảo dược vì lợi ích sức khỏe của chúng.

Thông thường, hồng táo được sử dụng chủ yếu như 1 loại dược liệu, có lợi cho não bộ, làm dịu tâm trí và cải thiện chất lượng giấc ngủ. Bài viết này tóm tắt và thảo luận về các tác động của hồng táo lên hệ thống thần kinh.

Hồng táo chứa các hoạt chất có tác dụng bảo vệ thần kinh bao gồm: bảo vệ các tế bào thần kinh, chống lại căng thẳng thần kinh, kích thích sự biệt hóa tế bào thần kinh, tăng biểu hiện của các yếu tố thần kinh, thúc đẩy trí nhớ. Flavonoid, cAMP và jujuboside có thể là các thành phần có hoạt tính sinh học tiềm năng để lý giải cho các hoạt động sinh học nói trên.

  1. Giới thiệu

Jujubae Fructus, trái cây của Ziziphus jujuba Mill. (Rhamnaceae), còn được gọi là hồng táo, hoặc chà là Trung Quốc, hoặc chà là đỏ, đã được sử dụng rộng rãi như thực phẩm và thuốc thảo dược Trung Quốc trong hơn 3.000 năm.

Hồng táo là một trong những trái cây bản địa đặc trưng của văn hóa Trung Quốc (Hình 1). Mô tả về hồng táo được ghi lại lần đầu tiên trong Cổ điển của Thơ ca (1046-771 trước Công nguyên). Ngày nay, các sản phẩm liên quan đến hồng táo được phân phối rộng rãi trên thế giới. Việc xem xét hồng táo như một loại thực phẩm hoặc một vị thuốc quan trọng có lịch sử lâu đời ở Trung Quốc. Trong cuốn sách cổ của Trung Quốc về dược thảo Huangdi Neijing (475-221 trước Công nguyên), hồng táo được mô tả là một trong năm loại trái cây có giá trị nhất ở Trung Quốc.

Trong Shennong Bencao Jing (300 trước Công nguyên-200 sau Công nguyên), một cuốn sách cổ ghi lại công dụng của các loại dược liệu, hồng táo được coi là một trong những loại thuốc thảo dược ưu việt giúp kéo dài tuổi thọ của con ngườibởi tác dụng bổ máu, cải thiện chất lượng giấc ngủ và điều hòa hệ tiêu hóa.

Các khu vực canh tác và khu vực sản xuất hồng táo chính ở Trung Quốc . Các khu vực trồng hồng táo ở Trung Quốc đã được làm nổi bật và hiển thị. Phụ trang cho thấy vị trí của các khu vực sản xuất chính của Trung Quốc, bao gồm các tỉnh Tân Cương, Cam Túc, Thiểm Tây, Sơn Tây, Hà Bắc, Hà Nam và Sơn Đông. Thiểm Tây và Sơn Tây được coi là khu vực canh tác đầu tiên  của hồng táo.
Hình 1: Các khu vực canh tác và khu vực sản xuất hồng táo chính ở Trung Quốc . Các khu vực trồng hồng táo ở Trung Quốc đã được làm nổi bật và hiển thị. Phụ trang cho thấy vị trí của các khu vực sản xuất chính của Trung Quốc, bao gồm các tỉnh Tân Cương, Cam Túc, Thiểm Tây, Sơn Tây, Hà Bắc, Hà Nam và Sơn Đông. Thiểm Tây và Sơn Tây được coi là khu vực canh tác đầu tiên  của hồng táo.

Hồng táo đã được tiêu thụ hàng ngàn năm và vẫn đang tiếp tục ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Các kết quả phân tích  hóa học và dược lý gần đây đã tiết lộ rằng các chất flavonoid, Polysaccharide và axit triterpenic là các thành phần chính có trong hồng táo. Dựa trên các tài liệu, cả flavonoid (một loại chất chuyển hóa trung gian của thực vật) và polysaccharide (là phân tử carbohydrate cao phân tử gồm chuỗi dài của đơn vị monosaccharide (đơn phân) liên kết với nhau. Tùy thuộc vào các loại đơn phân và các loại liên kết của đơn phân với nhau mà hình thành các loại polysaccharide có tính chất khác nhau) đều có thể giải thích cho tác dụng chống oxy hóa của hồng táo [ 1 – 3 ]. Hơn nữa, polysaccharide hồng táo cũng được đề xuất là hoạt chất chính góp phần vào chức năng điều hòa miễn dịch và tạo máu [ 4 , 5 ]. Axit triterpenic được coi là hoạt chất có tác dụng đối với các hoạt động chống viêm và chống ung thư [ 6 , 7]. Ngoài ra, axit betulinic và jujuboside B có thể là thành phần hoạt động cho thấy tác dụng có lợi đối với hệ tim mạch [ 8 , 9 ].

Nghiên cứu về các tác động sinh học của hồng táo đã giúp chứng minh được lợi ích về sức khỏe của hồng táo khi được sử dụng như một loại thực phẩm và cả dược liệu. Theo lý thuyết y học Trung Quốc, hồng táo được coi là một loại thảo dược làm dịu tâm trí và làm giảm căng thẳng tinh thần. Trên lâm sàng, hồng táo thường được kê đơn, dưới dạng thảo dược đơn lẻ hoặc trong các công thức an thần kết hợp với các loại thuốc thảo dược khác, để điều trị chứng mất ngủ và hay quên. Các đánh giá trước đây đã tóm tắt thành phần trái cây và lợi ích sức khỏe của nó [ 10 , 11 ]. Tuy nhiên, các nghiên cứu tập trung vào các hoạt động bảo vệ thần kinh khá hạn chế. Do đó, vai trò của hồng táo trong việc điều trị các bệnh lý liên quan đến thần kinh sẽ được giới thiệu trong bài nghiên cứu tổng quan này. Ngoài ra, các hợp chất hoạt tính sinh học tiềm năng của hồng táo liên quan đến lợi ích của não bộcũng sẽ được thảo luận thêm.

  1. Tác dụng của hồng táo trong sự biệt hóa tế bào thần kinh

Theo những ghi chép lịch sử ở Trung Quốc, một trong những chức năng chính của hồng táo được coi là có lợi cho não bộ của chúng ta là làm dịu tâm trí và cải thiện chất lượng giấc ngủ. Trong khoa học hiện đại, việc mang lại lợi ích cho bộ não của chúng ta thường liên quan đến các tác động thần kinh, ví dụ, hiệu ứng bảo vệ thần kinh và hành động thần kinh. Trong các rối loạn thần kinh, ví dụ, các bệnh thoái hóa thần kinh, mất ngủ và trầm cảm, một số tình trạng bệnh lý phổ biến trong số đó được tìm thấy là suy giảm chức năng thần kinh, thiếu hụt yếu tố thần kinh và Stress oxy hóa (hay Sự mất cân bằng lượng oxy hóa). Do đó, chức năng căn bản của hồng táo trong việc mang lại lợi ích cho não có thể liên quan chặt chẽ đến các tác động lên hệ thần kinh của nó ( Hình 2 ). Ở đây, các tác dụng kích thích thần kinh của hồng táo được tóm tắt ( Bảng 1).

 

Tác dụng bảo vệ thần kinh của hồng táo.
Hình 2: Tác dụng bảo vệ thần kinh của hồng táo.

Hồng táo gây ra sự phát triển thần kinh và biểu hiện yếu tố thần kinh thông qua tín hiệu PKA phụ thuộc cAMP. Hồng táo sở hữu bảo vệ thần kinh chống lại stress oxy hóa thông qua việc tăng cường các biểu hiện gen dựa vào Nrf2 phụ thuộc vào tế bào. Hồng táo cải thiện hoạt động choline acetyltransferase (ChAT) Choline acetyltransferase (ChAT), enzyme chịu trách nhiệm sinh tổng hợp acetylcholine, hiện là chỉ số cụ thể nhất để theo dõi trạng thái chức năng của các tế bào thần kinh cholinergic trong hệ thần kinh trung ương và ngoại biên. và cho thấy hoạt động ức chế chống lại acetylcholinesterase (AChE). Hồng táo làm tăng mức độ acetylcholine (ACh) trong não. Acetylcholine (ACh) là một hợp chất hữu cơ có trong não và cơ thể của nhiều loại động vật, bao gồm cả con người, nó có chức năng là một chất dẫn truyền thần kinh—một hóa chất được các tế bào thần kinh giải phóng ra để gửi tín hiệu đến các tế bào khác. …  Hồng táo kích thích sự biểu hiện phiên mã của các tiểu đơn vị thụ thể GABA trong các tế bào thần kinh đồi thị chuột.

Bảng 1: Tính chất có lợi cho thần kinh của hồng táo

Phát hiện/Kết quả Mô hình/Đối tượng nghiên cứu Xử lý mẫu/Các thức điều trị Tài liệu tham khảo Chú thích củangườibiên dịch
Hồng táo kích thích sự phát triển thần kinh và biểu hiện sợi trung gian thần kinhthông qua tín hiệu cAMP-PKA-CREB Tế bào PC12 được nuôi cấy; tế bào thần kinh được biệt hóa Chiết xuất hồng táo so với forskolin mẫu đối chứng [ 13 ] ·        cAMP: cyclic AMP hay AMP vòng.

·        PKA: Protein kinase A hay Protein kinaza A, là một họ enzyme có hoạt tính phụ thuộc vào nồng độ của AMP vòng (cAMP).

·        CREB: CRE binding protein hay protein bám vào.

·        Quá trình hoạt hóa CREB và CRE có tác dụng biến một tín hiệu ngắn của AMP vòng thành một sự thay đổi lâu dài và bền vững trong tế bào – điều này đóng vai trò quan trọng trong việc lưu trữ trí nhớ cũng như qua trình học hỏi của não bộ.

·        Forskolin là một hợp chất hoạt động trong rễ cây húng chanh Ấn Độ (Coleus forskohlii), một loài cây nhiệt đới thuộc họ bạc hà. Trong nhiều thế kỷ, loài cây này được sử dụng trong thảo dược học truyền thống để điều trị các mầm mống bệnh tật khác nhau.

Trái hồng táo chín có tác dụng hiệu quả hơn trong việc tạo ra sự biểu hiện của Neurofilaments (sợi trung gian thần kinh) so với trái hồng táo còn non Tế bào PC12 được nuôi cấy; biểu hiện của sợi trung gian thần kinh Chiết xuất hồng táo chín so với chiết xuất hồng táo non [ 19 ] ·        Neurofilaments (NF) là những sợi trung gian được tìm thấy trong tế bào chất của tế bào thần kinh. Chúng là các polyme protein có đường kính khoảng 10nm và chiều dài nhiều micromet. Cùng với các vi ống và vi chất, chúng tạo thành các tế bào thần kinh. Chúng được cho là hoạt chất chủ yếu cung cấp hỗ trợ cấu trúc cho sợi trục và điều chỉnh đường kính sợi trục, ảnh hưởng đến tốc độ dẫn truyền xung thần kinh.

·        PC12 là một dòng tế bào có nguồn gốc từ pheochromocytoma của tủy thượng thận chuột, có nguồn gốc phôi từ mào thần kinh có một hỗn hợp của các tế bào thần kinh và tế bào bạch cầu ái toan. PC12 thường được sử dụng trong các nghiên cứu phân tích về thần kinh (dẫn truyền xung thần kinh, cách thức các tế bào thần kinh giao tiếp với nhau và nhiều nghiên cứu khác).

Hồng táo kích thích sự biểu hiện của các yếu tố dưỡng thần kinh và các enzyme chống oxy hóa Tế bào thần kinh đệm hình sao được nuôi cấy; biểu hiện mRNA Chiết xuất hồng táo ở các nồng độ khác nhau (0-3 mg/ml) [ 16 ] ·        Tế bào thần kinh đệm hình sao (Astrocyte – Astro từ tiếng Hy Lạp astron = sao và cyte từ Tiếng Hy lạp “kytos” = khoang nhưng cũng có nghĩa là tế bào) là các tế bào thần kinh đệm có hình sao đặc thù ở trong não và tủy sống. Chúng thực hiện nhiều chức năng, bao gồm việc hỗ trợ sinh hóa tế bào nội mô mà hình thành nên hàng rào máu não, cung cấp dưỡng chất cho mô thần kinh, duy trì cân bằng ion ngoại bào, và đóng vai trò quan trọng trong quá trình sửa chữa và lên sẹo sau khi não và tủy sống gặp chấn thương.

·        mRNA (messenger RNA) là một loại RNA được phiên mã từ một trình tự DNA. mRNA truyền thông tin di truyền từ nhiễm sắc thể tới ribosome để tổng hợp protein.

Hồng táo bảo vệ các tế bào thần kinh chống lại tổn thương oxy hóa thông qua kích hoạt hoạt động phiên mã của ARE Tế bào PC12 được nuôi cấy; mất cân bằng oxy hóa gây ra bởi tBHP Chiết xuất hồng táo so với Vit.C, tBHQ b và mẫu đối chứng âm [ 20 ] ·        ARE (Antioxidant response element): yếu tố phản ứng chống oxy hóa.

·        tBHP (tert-Butyl hydroperoxide, tBuOOH) là một peroxide hữu cơ được sử dụng rộng rãi trong một loạt các quá trình oxy hóa.

·        Vit.C (Vitamin C)

·        Mẫu đối chứng (control), mẫu đối chứng âm (negative control), mẫu đối chứng dương (positive control): Khi làm thí nghiệm về sự tồn tại của một loại gen/enzym nào đó trong 1 mẫu test, người ta sử dụng mẫu đối chứng làm căn cứ để so sánh. Nếu mẫu test giống với mẫu đối chứng có nghĩa là gen/enzym tồn tại trong mẫu test và ngược lại. Trong trường hợp của nghiên cứu này, có thể hiểu rằng chiết xuất hồng táo đã ức chế sự hoạt động của gen sản sinh ra hoạt chất tBHQ, tức là góp phần bảo vệ các tế bào thần kinh khỏi tác nhân gây ra phản ứng oxy hóa. Công dụng của chiết xuất hồng táo trong thí nghiệm này được so sánh với tác dụng chống oxy hóa của Vitamin C.

Hồng táo bảo vệ tế bào thần kinh khỏi tổn thương do thiếu máu cục bộ Tổn thương do thiếu máu cục bộ ở Hồi hải mã của chuột nhảy Dùng đường uống chiết xuất hồng táo trong 10 ngày [ 21 ] ·        Hồi hải mã hay hồi cá ngựa (Hippocampus) trong ngành giải phẫu học, là một bộ phận của não trước, là một cấu trúc nằm bên trong thuỳ thái dương.

·        Dùng đường uống (Oral administration): Ở đây chỉ phương pháp đưa trực tiếp chiết xuất hồng táo (không tiêm) qua miệng của chuột nhảy. (Nhiều loại thuốc được dùng bằng đường uống vì chúng nhằm mục đích có tác dụng toàn thân, đến các bộ phận khác nhau của cơ thể.).

Hồng táo tăng thời gian ngủ do pentobarbital và giảm hoạt động tự do ở chuột Chuột Côn Minh, nghiên cứu hành vi và giấc ngủ Hồng táo với liều lượng 8g/kg được dùng bằng đường uống [ 22 ] ·        Pentobarbital: Một loại thuốc an thần, điều trị ngắn hạn chứng mất ngủ, chống co giật

 

Hồng táo thúc đẩy học tập và trí nhớ trong mô hình chuột OVX Chuột SD, thử nghiệm mê cung nước Morris Chuột  OVX được chia thành 6 nhóm: 2 nhóm táo tàu, nhóm tích cực, nhóm mẫu và 2 nhóm điều trị giả [ 23 ] ·        Chuột OVX (Ovariectomized rat tức là một con chuột bị rút trứng) là một con chuột cái có buồng trứng được cắt bỏ và được dùng là sinh vật mô hình cho những nghiên cứu về các bệnh tật.

·        Chuột SD (Sprague Dawley rat) là một chủng chuột thường được dùng trong phòng thí nghiệm.

·        Thử nghiệm mê cung nước Morris (Morris water maze) là một mô hình nghiên cứu hành vi của loài gặm nhấm đối với việc học tập, nhận biết và trí nhớ không gian. Nó cũng có thể được sử dụng để đánh giá thiệt hại đối với các vùng vỏ não cụ thể, nghiên cứu tác dụng của lạm dụng thuốc, nghiên cứu hệ thống thần kinh, dẫn truyền thần kinh và phát triển trí não.

Chiết xuất Hydro-Alcohol của hồng táo làm giảm cơn co giật, mất cân bằng oxy hóa và suy giảm nhận thức trong mô hình chuột bị động kinh Chuột, mô hình thí nghiệm chuột động kinh Chiết xuất hydro-Alcohol của hồng táo (100, 250, 500 và 1000 mg/kg) được dùng bằng đường uống [ 24 ] ·        Hydro-Alcohol: Một hợp chất gồm nước và cồn. Trong một số nghiên cứu khoa học, hợp chất này được chiết xuất từ 1 số loại thực vật  có tác dụng giảm đau, chống oxy hóa, tăng trí nhớ và một số tác dụng khác. Tham khảo thêm tại các link sau: Link 1, Link 2
Hồng táo có tác dụng khắc phục các rối loạn trí nhớ và hành vi do tổn thương NBM ở chuột Chuột đực Wistar; Thử nghiệm mê cung nước Morris Các chú chuột thí nghiệm được chia thành 7 nhóm: bình thường, AD, AD/bình thường + 2 nhóm hồng táo và 2 nhóm điều trị giả [ 25 ] ·        ChAT (Choline acetyltransferase)là một enzyme vận chuyển chịu trách nhiệm tổng hợp chất dẫn truyền thần kinh acetylcholine. ChAT xúc tác chuyển một nhóm acetyl từ coenzyme acetyl-CoA sang choline, thu được acetylcholine.

·        NBM (Nucleus basalis of Meynert hay Nucleus basalis magnocellularis)là một nhóm các tế bào thần kinh nằm chủ yếu ở vùng chất vô danh (Xem thêm định nghĩa của chất vô danh tại đây: Substantia innominata) của hạch nền. Hầu hết các tế bào thần kinh này rất giàu chất dẫn truyền thần kinh acetylcholine, và chúng cũng được dự đoán là có mặt khắp trên vùng vỏ não và tại các cấu trúc não bộ khác.

·        AD: Alzheimer’s disease bệnh/hội chứng mất trí nhớ, rối loạn thần kinh

Chiết xuất Methanolic từ hồng táo kích hoạt ChAT. Oleamide từ hồng táo giúp hồi phục trí nhớ và/hoặc suy giảm nhận thức ở mô hình chuột Nuôi cấy tế bào MC-IXC, chuột Oleamide ở mức 0,4-2,4 mM trên ChAT hoạt động; chuột được điều trị bằng oleamide trong 4 tuần [ 26 ] ·        Methanolic (Methanol, cũng được gọi là ancol metylic, alcohol gỗ, naphtha gỗ hay rượu mạnh gỗ) là một hợp chất hóa học với công thức phân tử CH₃OH hay CH₄O. Đây là rượu đơn giản nhất, nhẹ, dễ bay hơi, không màu, dễ cháy chất lỏng với một mùi đặc trưng, rất giống, nhưng hơi ngọt hơn ethanol.

·        Oleamide là một hợp chất hữu cơ có công thức CH₃ (CH₂) ₇CH = CH (CH₂) CONH₂. Nó là amit có nguồn gốc từ axit oleic axit béo. Nó là một chất rắn sáp không màu và hình thành trong tự nhiên.

·        MC-IXC là một dòng con nhân bản hai lần của dòng tế bào thần kinh SK-N-MC) được tạo ra vào tháng 9 năm 1971 từ một khối u di căn. Xem thêm thông tin tại link: MC-IXC

Hồng táo tăng hàm lượng cAMP trong huyết tương và hồi hải mã của động vật Chuột đực ICR, mức cAMP trong hồi hải mã và huyết thanh Ví dụ dùng hàm lượng hồng táo ở mức 0,35g/kg [ 27 ] ·        Chuột ICR là một dòng chuột bạch tạng có nguồn gốc từ Thụy Sĩ và được Tiến sĩ Hauschka chọn để tạo ra một dòng chuột cao sản. Xem thêm thông tin tại link Chuột ICR.

·        Hồi hải mã (đã được chú thích ở trên).

Một polypeptide Snakin-Z từ hồng táo sở hữu hoạt động ức chế cholinesterase Hoạt tính ức chế cholinesterase Snakin-Z ở mức 1,5 mg/mL có hoạt tính ức chế 80% [ 28 ] ·        Snakin-Z là một peptide kháng khuẩn mới (AMP) được xác định từ trái cây họ táo tàu. Peptide này bao gồm 31 axit amin, trọng lượng phân tử 3318.82 Da. Snakin-Z có khả năng có đặc tính kháng khuẩn chống lại vi khuẩn và nấm. Giá trị nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của peptide này phù hợp với hoạt động kháng khuẩn.Xem thêm thông tin tại link Snakin-Z.

·        Cholinesterase là một men xúc tác quá trình thủy phân Acetylcholin(chất dẫn truyền thần kinh, đã chú thích ở trên) thành cholin và acid acetic. Đây là một phản ứng cần thiết để các tế bào neuron thần kinh cholinergic phục hồi trở lại trạng thái nghỉ ngơi sau một hoạt hóa. Tuy nhiên, nếu Cholinesterase hoạt động quá nhiều sẽ làm giảm khả năng truyền xung thần kinh.

 

Neurogenesis là một quá trình phối hợp tốt bao gồm sự biệt hóa tế bào thần kinh, hình thành khớp thần kinh và tăng sinh tế bào. Một số nghiên cứu cho rằng, trong tình trạng bệnh lý của các bệnh thoái hóa thần kinh, có thể quan sát được nhiều loại phát sinh thần kinh khác nhau, cho thấy rằng sự hình thành thần kinh có thể là một cơ chế bù trừ trong các quá trình thoái hóa thần kinh [ 12 ]. Do đó, việc thúc đẩy biệt hóa tế bào thần kinh có thể là một phương tiện để ngăn ngừa các bệnh này. Các tế bào PC12 nuôi cấy pheochromocytoma là một hệ thống mô hình thích hợp cho nghiên cứu về sự biệt hóa tế bào thần kinh [ 13]. Các đặc tính của tế bào PC12 rất giống với hệ thống nơ-ron giao cảm, nghĩa là các ký tự của biểu hiện neurofilament (NF) và sự phát triển của nơ-ron trong việc đáp ứng thách thức của yếu tố tăng trưởng thần kinh (NGF). Các phát hiện trên hồng táo chỉ ra rằng việc sử dụng chiết xuất nước hồng táo trên các tế bào PC12 nuôi cấy trong 72 giờ có thể tạo ra sự biệt hóa tế bào: tế bào biệt hóa cảm ứng chiếm ~ 25% tổng số tế bào trong nuôi cấy. Kết quả cũng cho thấy rằng việc áp dụng chiết xuất nước hồng táo trong các tế bào PC12 nuôi cấy trong 72 giờ có thể kích thích một cách phụ thuộc vào liều của các biểu hiện của NF68, NF160 và NF200 [ 13 ].

Astrocytes là tế bào phong phú nhất trong hệ thống thần kinh. Một trong những chức năng chính của nó là tổng hợp và giải phóng các yếu tố gây suy nhược thần kinh, đó là NGF, yếu tố gây suy nhược thần kinh có nguồn gốc từ não (BDNF), yếu tố tế bào thần kinh có nguồn gốc từ tế bào thần kinh đệm (GDNF), neurotrophin 3 (NT3) và NT4/5 [ 14 ]. Những yếu tố này rất quan trọng đối với sự tồn tại của tế bào thần kinh, sự tăng trưởng, sự khác biệt và sự thiếu hụt có thể gây suy yếu thần kinh [ 15 ]. Do đó, sự điều hòa của các yếu tố thần kinh có thể đóng một vai trò tích cực trong điều trị các bệnh thần kinh. Tác dụng của hồng táo đối với biểu hiện yếu tố thần kinh đã được nghiên cứu ở tế bào hình sao nuôi cấy [ 16]. Việc điều trị bằng chiết xuất nước hồng táo đã kích thích sự biểu hiện của các yếu tố thần kinh theo cách phụ thuộc vào liều, có cảm ứng cao nhất ~ 100% đối với NGF, 100% đối với BDNF, 100% đối với GDNF và 50% đối với NT3. Đối với NT4 và NT5, không thấy sự thay đổi hình thái rõ rệt ở tế bào hình sao được điều trị bằng hồng táo.

Tín hiệu của cAMP-PKA-CREB được biết đến với vai trò phân biệt tế bào thần kinh của tế bào PC12 [ 17 ]. Do đó, sự liên quan của con đường cAMP trong sự phát triển thần kinh do hồng táo gây ra và biểu hiện dây thần kinh đã được tiết lộ (Hình 2). Các phát hiện cho thấy các biểu hiện tăng sinh thần kinh và dây thần kinh do hồng táo tác dụng đã bị suy giảm khi áp dụng H89 (một chất ức chế PKA phụ thuộc AMP theo chu kỳ) [ 13 ]. CREB, yếu tố phiên mã hạt nhân, được biết là có vai trò trong sự biệt hóa tế bào thần kinh [ 18 ]. Kết quả nghiên cứu cho thấy hồng táo có thể kích thích sự phosphoryl hóa CREB, và hiệu ứng cảm ứng của nó có thể bị chặn hoàn toàn bởi H89 [ 13]. Ngoài ra, việc áp dụng chiết xuất nước hồng táo có thể kích thích hoạt động phiên mã của CRE. Các nghiên cứu sâu hơn cũng cho thấy rằng tiền xử lý với H89 đã ngăn chặn đáng kể các yếu tố thần kinh do tác động của hồng táo bao gồm NGF, BDNF và GDNF, cho thấy có thể có sự tham gia của tín hiệu PKA trong biểu hiện yếu tố thần kinh do hồng táo [ 16 ].

  1. Bảo tồn tương đối cấu trúc và/hoặc chức năng tế bào thần kinh chống nhiễm độc oxy hóa

Trong quá trình thoái hóa thần kinh, các chức năng của tế bào thần kinh bị giảm rõ rệt. Trong các bệnh Parkinson và Alzheimer, stress oxy hóa, là yếu tố chính đáng kể, được cho là gây ra tổn thương thần kinh trong tiến triển của bệnh [ 29 ]. Trong các tế bào nuôi cấy, chiết xuất nước hồng táo đã cho thấy khả năng bảo vệ các tế bào thần kinh chống lại tổn thương oxy hóa tert-butyl hydroperoxide (tBHP). Ngoài ra, người ta cũng thấy rằng chiết xuất nước hồng táo có thể ức chế sự hình thành ROS (các loại oxy phản ứng) do tBHP gây ra trong các tế bào PC12 nuôi cấy [ 20]. Các gen điều khiển Nrf2 (yếu tố hạt nhân (có nguồn gốc từ erythroid 2, một yếu tố phản ứng chống oxy hóa), bao gồm glutamate-cysteine ​​ligase (GCL), glutathione S-transferase (GST) và NAD (P) H quinone oxyoreductase (NQO1), đã được chứng minh là đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ các tế bào chống lại stress oxy hóa [ 30 , 31 ]. Chiết xuất nước hồng táo đã kích thích hoạt động sao chép qua thông qua kích hoạt hoạt động phiên mã của ARE (yếu tố chống oxy hóa), cho thấy sự kích hoạt của con đường Nrf2 (Hình 3). Ngoài ra, việc áp dụng hồng táo đã tạo ra lượng NQO1, GCLC (tiểu đơn vị xúc tác của GCL), GCLM (tiểu đơn vị sửa đổi của GCL) và mức mRNA của GST trong tế bào hình sao nuôi cấy [ 16]. Hồng táo cũng được cho rằng có khả năng bảo vệ tổn thương do thiếu máu cục bộ ở hồi hà mã của loài chuột nhảy Gerbil thông qua tác dụng chống oxy hóa, giúp điều hòa lượng superoxide effutase (SOD) 1 và giảm peroxid hóa lipid [ 21 ].

Ghi chú: Superoxide effutase (SOD)là một enzyme thay thế xúc tác cho quá trình phân hủy gốc superoxide thành oxy phân tử thông thường hoặc hydro peroxide. Superoxide được sản xuất như một sản phẩm phụ của quá trình chuyển hóa oxy và nếu không được điều tiết sẽ gây ra nhiều loại tổn thương tế bào.

 Cấu trúc cho các hợp chất hóa học trong hồng táo có tiềm năng bảo vệ thần kinh.

Hình 3: Cấu trúc cho các hợp chất hóa học trong hồng táo có tiềm năng bảo vệ thần kinh.

Bảy dấu hiệu hóa học được tìm thấy trong hồng táo bao gồm kaempferol 3-O-rutinoside, quercetin 3-O-rutinoside, (-) catechin, (-)-epicatechin, swertish, spinosin và cAMP được báo cáo là có tác dụng bảo vệ thần kinh.

  1. Tác dụng của hồng táo với chứng mất ngủ, học tập và trí nhớ

Trong y học thảo dược Trung Quốc, hồng táo được điều chế như một loại trà được sử dụng để chống lại chứng mất ngủ [ 32 , 33 ]. Thật vậy, hồng táo đã được tìm thấy để tăng thời gian ngủ do Pentobarbital (Một loại thuốc an thần, điều trị ngắn hạn chứng mất ngủ, chống co giật) gây ra và làm giảm sự di chuyển tự do trên chuột [ 22 ]. Để hỗ trợ điều này, Peng et al. (2000) báo cáo rằng hạt của hồng táo đã kéo dài thời gian ngủ do Hexobarbital (Một dẫn xuất barbiturat có tác dụng thôi miên và an thần)gây ra ở chuột và làm giảm hoạt động vận động ở chuột. Hơn nữa, hồng táo đã được chứng minh là có tác dụng giải tỏa lo âu bằng cách tăng lần vào đầu tiên, cũng như tổng số thay đổi và thời gian trong buồng trắng của thử nghiệm đen trắng [ 34 ]. Bên cạnh đó, flavonoid và saponin từ hạt của hồng táo cho thấy tác dụng an thần và thôi miên, làm giảm đáng kể thời gian đi chuyển và khả năng di chuyển phối hợp của chuột, kéo dài đáng kể thời gian ngủ của nó [ 35 ]. Jujuboside A, một trong những saponin từ hạt giống của hồng táo, kích thích sự biểu hiện của tiểu đơn vị thụ thể GABA trong tế bào thần kinh chuột vùng đồi thị [ 36 ] và các rối loạn hành vi cải tạo của mô hình bệnh mất trí nhớ chuột gây ra bởi A β 1-42 [ 37 ]. Chiết xuất methanolic và oleamide từ hồng táo cho thấy hiệu quả kích hoạt trên choline acetyltransferase (ChAT). Trong khi đó, oleamide đã được tìm thấy để làm giảm chứng mất trí nhớ do scopolamine(là một loại ma túy hay mê dược được bào chế từ cây Borrachero ở Colombia và có tác dụng gây mê, thôi miên) ở chuột, một mô hình in vivo(thí nghiệm được tiến hành trên cơ thể sống) hữu ích cho bệnh Alzheimer(Bệnh/chứng mất trí nhớ) [ 26]. Hồng táo được báo cáo là cải thiện khả năng học tập và trí nhớ trong mô hình chuột bị cắt bỏ buồng trứng, và hiệu quả của nó có thể là do sự gia tăng estrogen trong máu, cũng như nồng độ oxit nitric và acetylcholine trong não [ 23 ]. Hơn nữa, chiết xuất hydro-Alcohol của hồng táo cũng được chứng minh là có tác dụng chống co giật và cải thiện suy giảm nhận thức do co giật ở chuột [ 24 ]. Chiết xuất hạt của hồng táo cho thấy hiệu quả đầy hứa hẹn trong việc cải thiện trí nhớ ở chuột bị rối loạn phục hồi trí nhớ do rượu và có thể giúp cải thiện khả năng học tập ở một mức độ nào đó [ 38]. Theo các báo cáo đã nói ở trên, hồng táo đã được báo cáo là có tác dụng hồi phục đối với trí nhớ và suy giảm khả năng học tập do tổn thương điện hai bên của NBM trong hạch nền ở chuột [ 25 ]. Ngoài ra, chiết xuất hồng táo có 1% cAMP được tìm thấy có chức năng chống trầm cảm trong mô hình động vật [ 39 ].

  1. Hai giai đoạn phát triển của hồng táo trong bảo vệ thần kinh

Hai loại hồng táo thường được tìm thấy ở thị trường Trung Quốc: hồng táo tươi chưa chín được tiêu thụ như trái cây và hồng táo chín khô được sử dụng làm dược liệu Trung Quốc. Về mặt hóa học, sự giảm mạnh các hợp chất flavonoidic đã được tiết lộ trong quá trình trưởng thành [ 20 , 40 ], trong khi lượng hợp chất được lựa chọn thấp hơn đáng kể so với các loại hồng táo chưa chín so với các hợp chất trưởng thành, bao gồm xanthine, hypoxanthine, adenine, uridine, guanosine, cGMP, cAMP [ 20 ]. Hơn nữa, các biến thể chuyển hóa giữa các hồng táo chin và chưa chín cũng đã được nghiên cứu. Nồng độ isoleucine, threonine, acetate, creatine và glucose thấp hơn so với nước táo chưa chín so với mức độ của alanine, sucrose và formate trong hồng táo chín thấp hơn so với chưa chín [19 ]. Đối với các đánh giá sinh học, chức năng chống oxy hóa của chiết xuất hồng táo được so sánh đầu tiên [ 20 ]. Các tác dụng chống oxy hóa đã được thay đổi giữa các loại hồng táo chín khác nhau. Hồng táo tươi chưa chín có tác dụng tốt hơn đối với hoạt động chống oxy hóa so với hồng táo chín. Tuy nhiên, hồng táo chín cho thấy hiệu quả tốt hơn trong việc ức chế sự hình thành ROS và kích hoạt tín hiệu yếu tố phản ứng chống oxy hóa Nrf2 [ 20 ]. Hơn nữa, về sự biệt hóa tế bào thần kinh, hồng táo chín sở hữu hiệu quả tốt hơn, cao hơn khoảng 60% so với chưa chín [ 19 ]. Những phát hiện này cho thấy sự khác nhau giữa tác dụng cụ thể của hồng táo chín và chưa chín.

  1. Hồng táo chứa các loại dược liệu có tác dụng bảo vệ thần kinh

Trong y học Trung Quốc, hồng táo thường được bao gồm trong hỗn hợp thảo dược, được gọi là Fu Fang, có sự kết hợp cụ thể của các loại thảo mộc khác nhau. Những yêu cầu cụ thể của việc chuẩn bị thảo dược đã không được thay đổi. Trong số hàng ngàn loại thuốc thảo dược khác nhau, Ganmai Dazao Tang và Chaihu Guizhi Tang (Tên 2 loại thuốc của Trung Quốc có thành phần chính chiết xuất từ hồng táo) thường được sử dụng ngày nay để điều trị rối loạn trầm cảm [ 41 ]: cả hai đều chứa hồng táo như một loại thảo dược chính trong công thức. Lấy Ganmai Dazao Tang làm ví dụ, đơn thuốc này có cam thảo, lúa mì và hồng táo đã được ghi lại trong một cuốn sách Jingui Yaolue(Bộ sưu tập đơn thuốc Jingui), được viết bởi một học giả y học nổi tiếng Trung Quốc Zhang Zhongjing (150 trước Công nguyên đến năm 219 sau Công nguyên) trong triều đại nhà Hán của Trung Quốc. Thuốc thảo dược này theo truyền thống được quy định cho phụ nữ bị lo lắng. Ganmai Dazao Tang được báo cáo là một trong 10 công thức thảo dược hàng đầu của Trung Quốc được kê toa cho chứng mất ngủ ở Đài Loan [ 42 ]. Mặc dù các cơ chế phân tử cho các công thức thảo dược này chưa rõ ràng, nhưng các công thức chống trầm cảm này có thể có tác dụng đối với biểu hiện yếu tố thần kinh, vì người ta tin rằng giảm biểu hiện BDNF ở bệnh nhân trầm cảm [ 43 , 44 ]. Thật vậy, Ganmai Dazao Tang đã được báo cáo để gây ra biểu hiện BDNF trong mô hình động vật trầm cảm [ 45]. Bên cạnh đó, các loại thuốc thảo dược có chứa táo tàu, bao gồm Guizhi Tang, Neibu Dangguijianzhong Tang và ZaoTang, đã tạo ra sự biệt hóa tế bào thần kinh và biểu hiện của các enzyme chống oxy hóa trong các tế bào PC12 nuôi cấy [ 46 ], ví dụ, GCLC, GCLM, GST, của Cùng với kết quả của hồng táo là một loại thảo mộc đơn lẻ, những phát hiện này có thể minh họa các chức năng của hồng táo như một vị thuốc đa năng.

  1. Thành phần hoạt tính sinh học tiềm năng có tác dụng bảo vệ thần kinh

Các hợp chất phenolic được tìm thấy rộng rãi trong thực vật, bao gồm một nhóm lớn các thành phần hoạt tính sinh học. Flavonoid thường được tìm thấy trong trái cây, và một số trong đó đã được báo cáo là có tác dụng bảo vệ thần kinh (Hình 3) [ 47 , 48 ]. Trong số các loại flavonoid khác nhau trong táo tàu, Zhu et al. (2007) báo cáo rằng kaempferol 3 O-rutinoside sở hữu hoạt động bảo vệ thần kinh chống lại quá trình nhiễm độc oxy hóa và phòng ngừa tổng hợp Aβ [ 47 ]. Quercetin 3 O-rutinoside được chứng minh là có tác dụng chống-Aβ tác dụng tập hợp. Cả hai (-) – catechin và (-)-epicatechin cho thấy sự ức chế của Aβ tập hợp và Aβ độc tính gây ra [ 47 ]. Ngoài ra, kaempferol 3-O-rutinoside cho thấy tác dụng bảo vệ đối với thiếu máu não cục bộ vĩnh viễn và nuôi cấy tế bào thần kinh [ 49 ], cũng như trong việc giảm rối loạn chức năng bộ nhớ, suy giảm chuyển hóa năng lượng và stress oxy hóa ở chuột mô hình đa hồng cầu [ 50 ]. Spinosin sở hữu tác dụng mạnh đối với giấc ngủ do pentobarbital gây ra và tác dụng của nó có liên quan đến thụ thể 5-HT sau synap [ 51 , 52 ]. Thật vậy, spinosin và swertish, được phân lập từ hạt táo tàu, được báo cáo là có hoạt tính an thần đáng kể [ 53]. Tuy nhiên, các flavonoid trong táo tàu, bao gồm (-)-catechin, (-)-epicatechin, kaempferol 3-O-rutinoside và quercetin 3-O-rutinoside, đã được thử nghiệm về tác dụng gây suy nhược thần kinh, nhưng không có tác dụng đáng kể nào trong số chúng. [ 48 ].

Ghi chú: Amyloid β protein (Aβ) có liên quan đến bệnh Alzheimer (AD) vì đây là thành phần chính của mảng bám ngoại bào được tìm thấy trong não AD. Xem thêm thông tin tại link: Amyloid β protein.

Nucleotide tuần hoàn và các dẫn xuất của chúng tham gia vào quá trình điều hòa và điều chế rất nhiều quá trình sinh lý trong cơ thể. Những hóa chất này thể hiện nhiều hoạt tính sinh học, nghĩa là tác dụng bảo vệ thần kinh [ 54 , 55 ]. Trong số đó, cAMP được báo cáo là một lượng tương đối lớn trong hồng táo và điều thú vị là hàm lượng của nó cao hơn nhiều so với các loại trái cây làm vườn khác ( Hình 3 ) [ 56 – 58 ]. Lượng cAMP, xấp xỉ lượng chứa trong 2 mg/mL chiết xuất nước táo tàu, cho thấy hoạt động phân biệt tế bào thần kinh trong các tế bào PC12 nuôi cấy. Điều này chắc chắn chỉ ra rằng cAMP hồng táo đã đóng một vai trò trong sự biệt hóa tế bào thần kinh, như báo cáo cho chiết xuất hồng táo [ 13]. Ngoài ra, một báo cáo cho thấy hồng táo có thể làm tăng hàm lượng cAMP trong huyết tương và hồi hải mã của mô hình động vật [ 27 ], và các tác giả đã đưa ra giả thuyết rằng cAMP ngoại sinh trong chiết xuất nước hồng táo có thể tạo ra kết quả nói trên. Song song, cAMP được cho là có liên quan đến sự hình thành trầm cảm. Thật vậy, cAMP phân lập từ hồng táo đã được tìm thấy có tài sản chống vi trùng trong mô hình động vật của bệnh trầm cảm [ 39 ]. Ngoài ra, Jujubosides, được tìm thấy trong tinh dịch Ziziphi Spinosae và hồng táo [ 59 ], được báo cáo là có tác dụng thôi miên [ 35 , 60 ]. Để hỗ trợ điều này, jujuboside A có thể điều chỉnh biểu hiện mRNA của tiểu đơn vị thụ thể GABA trong các tế bào thần kinh vùng đồi thị [ 61]. Oleamide từ hồng táo đã phục hồi trí nhớ do chất scopolamine và/hoặc suy giảm nhận thức ở mô hình chuột [ 26 ]. Ngược lại, một snakin-Z polypeptide, được phân lập từ táo tàu, có tác dụng ức chế cholinesterase [ 28 ].

  1. Phát triển và quan điểm

Có hơn 3.000 năm lịch sử, hồng táo vẫn là một loại trái cây phổ biến trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta vì lợi ích sức khỏe của nó [ 62 ]. Dựa trên những phát hiện về tế bào và động vật đã nói ở trên, hồng táo có tiềm năng lớn trong việc phát triển hơn nữa như là thực phẩm và dược phẩm bổ sung cho sức khỏe não bộ. Chiết xuất nước hồng táo là hình thức sử dụng phổ biến nhất. Nó có thể được chuẩn bị thành thuốc sắc và uống hàng ngày, hoặc nó có thể được kết hợp với các thực phẩm khác để chế biến thành một món súp ngon. Nghiên cứu lâm sàng cho thấy rằng không có tương tác bất lợi và thuốc đã được báo cáo cho việc tiêu thụ hồng táo [ 63 – 66 ]. Ngoài ra, các nghiên cứu gần đây cũng tiết lộ rằng chiết xuất nước hồng táo chứa lượng thành phần cao hơn so với chiết xuất ethanol [ 20]. Do đó, chiết xuất nước hồng táo có thể là một lựa chọn tốt như là một sản phẩm thay thế được chỉ định cho chứng rối loạn thần kinh. Hơn nữa, chất lượng của thảo dược, như hồng táo ở đây, có thể thay đổi do nhiều yếu tố, ví dụ, mùa thu hoạch, khu vực địa lý và bảo quản sau thu hoạch. Vì vậy, điều cần thiết là thiết lập các thông số khác nhau trong việc tiếp nhận chiết xuất nước hồng táo theo tiêu chuẩn hóa học. Để chuẩn hóa dung dịch hóa học chiết xuất nước hồng táo về mặt cấu hình và thành phần hóa học HPLC, phương pháp định lượng và dấu vân tay HPLC đã được sử dụng để định lượng các thành phần chính trong chiết xuất hồng táo [ 20]. Các thông số tiêu chuẩn hóa có thể được sử dụng để đảm bảo chất lượng ổn định của chiết xuất nước hồng táo và để đảm bảo hơn nữa về độ lặp lại của kết quả thí nghiệm.

Các thành phần hoạt động của hồng táo bao gồm nucleotide và flavonoid, có thể cho thấy tác dụng có lợi trong các chức năng của não. Khi xem xét lợi ích của cAMP trong táo tàu, nhiều nghiên cứu đang nhắm mục tiêu vào các quá trình trích xuất và tách cAMP khỏi hồng táo [ 39 , 67 , 68 ]. Do đó, việc làm giàu nucleotide của hồng táo có thể được phát triển thành một loại thực phẩm hoặc dược phẩm để điều trị các bệnh, chẳng hạn như trầm cảm hoặc thoái hóa thần kinh. Trong quá trình sản xuất đồ uống và các loại thực phẩm khác bằng táo tàu, chẳng hạn như bánh, vỏ thường bị loại bỏ. Chiết xuất vỏ hồng táo được tìm thấy có chứa lượng hợp chất phenolic cao hơn so với bột giấy [ 69]. Những phát hiện này có thể ngụ ý rằng vỏ hồng táo có thể phục vụ như một nguồn chất chống oxy hóa tự nhiên rẻ tiền để bảo vệ các tế bào thần kinh chống lại sự nhiễm độc oxy hóa. Hạt của hồng táo cũng bị loại bỏ trong các sản phẩm thực phẩm hoặc thực hành TCM. Hạt giống từ hồng táo ta(từ trong bài viết gốc là Z. jujuba var. spinosa), hồng táo chua, có tác dụng thôi miên [ 35 , 60 ], chỉ ra rằng hạt hồng táo cũng có thể là một lựa chọn để điều trị chứng mất ngủ là nguyên liệu thô hoặc lấy làm nguồn cho hoạt chất.

Việc sử dụng hồng táo ở Trung Quốc không bị hạn chế như một loại trái cây duy nhất; nó thường được quy định trong các loại thuốc sắc cho các mục đích khác nhau. Hồng táo thường được sử dụng làm thành phần chính trong tất cả các công thức thảo dược được viết bởi Zhang Zhongjing (Năm 150 trước Công nguyên – 219 sau Công nguyên). Theo lý thuyết y học Trung Quốc của Zhang, hồng táo được đưa vào thuốc sắc để điều chỉnh mùi vị của các loại thảo mộc khác, ví dụ, để hài hòa lá lách và dạ dày, để hài hòa chất dinh dưỡng và bảo vệ, và làm dịu tâm trí. Có hồng táo là thành phần hoạt động, chức năng chính của thuốc sắc có chứa hồng táo để điều trị các bệnh liên quan đến não nên được dự kiến.

Lời cảm ơn

Nghiên cứu này được hỗ trợ bởi Chương trình nghiên cứu dựa trên chủ đề của Hội đồng tài trợ nghiên cứu Hồng Kông (T13-607 / 12R), GRF (663012, 662713, M-HKUST604 / 13), TUYF12SC03, TUYF15SC01, Ủy ban từ thiện Câu lạc bộ Hồng Kông (HKJC12) và Quỹ Nhận thức về Tự nhiên (TAON12SC01) cho Karl Tsim. Nghiên cứu này cũng được tài trợ bởi Dự án Kế hoạch Khoa học và Công nghệ Thâm Quyến (JSGG20141017103353178 và ZDSYS201606081515458), Bộ Nhân lực và An sinh xã hội của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Quỹ Khoa học Tự nhiên tỉnh Quảng Đông (2015A030310247) 20151079), và Ủy ban Kế hoạch hóa Gia đình và Sức khỏe của Thành phố Thâm Quyến (201505015).

Xung đột lợi ích

Các tác giả tuyên bố rằng không có xung đột lợi ích liên quan đến việc xuất bản bài viết này.

Tài liệu tham khảo

  1. Chang SC, Hsu BY, Chen BH Đặc tính cấu trúc của Polysaccharide từ Zizyphus jujuba và đánh giá hoạt tính chống oxy hóa. Tạp chí quốc tế về các đại phân tử sinh học . 2010; 47 (4): 445 muộn453. doi: 10.1016 / j.ijbiomac.2010.06.010. [ PubMed ] [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  2. Choi S.-H., Ahn J.-B., Kozukue N., Levin CE, Friedman M. Phân phối axit amin tự do, flavonoid, tổng phenolics và các hoạt động chống oxy hóa của quả hồng táo ( Ziziphus jujuba ) được thu hoạch từ cây được trồng ở Hàn Quốc. Tạp chí Hóa học Nông nghiệp và Thực phẩm . 2011; 59 (12): 6594 Từ6604. doi: 10.1021 / jf200371r. [ PubMed ] [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  3. Li J., Shan L., Liu Y., Fan L., Ai L. Sàng lọc một Polysaccharide chức năng từ Zizyphus jujuba cv. jinsixiaozao và tài sản của nó. Tạp chí quốc tế về các đại phân tử sinh học . 2011; 49 (3): 255 Vang259. doi: 10.1016 / j.ijbiomac.2011.04.006. [ PubMed ] [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  4. Xu Y.-L., Miao M.-S., Sun Y.-H., Miao Y.-Y. Ảnh hưởng của Fructus Jujubae Polysaccharide đến chức năng tạo máu trong mô hình chuột của cả thiếu khí và thiếu máu. Tạp chí Phục hồi chức năng lâm sàng Trung Quốc . 2004; 8 (24): 5050 Ném5051. [ Học giả Google ]
  5. Zhao Z., Liu M., Tu P. Đặc tính của Polysaccharide hòa tan trong nước từ các cơ quan của Hồng táo Trung Quốc ( Ziziphus jujuba Mill. Cv. Dongzao ) Nghiên cứu và Công nghệ Thực phẩm Châu Âu . 2008; 226 (5): 985 Từ989. doi: 10.1007 / s00217-007-0620-1. [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  6. Yu L., Jiang BP, Luo D., et al. Thành phần hoạt tính sinh học trong trái cây của Ziziphus jujuba Mill. chống lại tác động gây viêm của cây Euphorbia. Tế bào thực vật . 2012; 19 (3-4): 239 Từ244. doi: 10.1016 / j.phymed.2011.09.071. [ PubMed ] [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  7. Tahergorabi Z., Abedini MR, Mitra M., Fard MH, Beydokhti H. ‘ Ziziphus jujuba ‘: một loại trái cây màu đỏ với các hoạt động chống ung thư đầy hứa hẹn. Nhận xét dược lý . 2015; 9 (18): 99 Kho106. doi: 10,4103 / 0973-7847.162108. [ Bài viết miễn phí PMC ] [ PubMed ] [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  8. Steinkamp-Fenske K., Bollinger L., Xu H., et al. Điều hòa đối ứng của nitric-oxide synthase nội mô và NADPH oxyase bằng axit betulinic trong các tế bào nội mô của con người. Tạp chí dược lý và liệu pháp thực nghiệm . 2007; 322 (2): 83618842. doi: 10.1124 / jpet.107.123356. [ PubMed ] [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  9. Seo EJ, Lee SY, Kang SS, Jung Y.-S. Zizyphus jujuba và thành phần hoạt chất jujuboside B của nó ức chế kết tập tiểu cầu. Nghiên cứu tế bào học . 2013; 27 (6): 829 trận834. doi: 10.1002 / ptr.4809. [ PubMed ] [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  10. Mahajan RT, Chopda MZ Phyto-dược lý của Ziziphus jujuba Mill. Đập một bài đánh giá thực vật. Nhận xét dược lý . 2009; 3 (6): 320 trận329. [ Học giả Google ]
  11. Gao Q.-H., Wu C.-S., Wang M. The jujube ( Ziziphus jujuba Mill.) Fruit : đánh giá về kiến ​​thức hiện tại về thành phần trái cây và lợi ích sức khỏe. Tạp chí Hóa học Nông nghiệp và Thực phẩm . 2013; 61 (14): 3351 Từ3363. doi: 10.1021 / jf4007032. [ PubMed ] [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  12. Jin K., Peel AL, Mao XO, et al. Tăng sinh thần kinh vùng đồi thị trong bệnh Alzheimer. Kỷ yếu của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ . 2004; 101 (1): 343 Từ347. doi: 10.1073 / pnas.2634794100. [ Bài viết miễn phí PMC ] [ PubMed ] [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  13. Chen JP, Maiwulanjiang M., Lam KYC, et al. Một chiết xuất tiêu chuẩn của trái cây Ziziphus jujuba (Jujube) gây ra sự biệt hóa tế bào thần kinh của tế bào PC12 nuôi cấy: một tín hiệu qua trung gian protein kinase A. Tạp chí Hóa học Nông nghiệp và Thực phẩm . 2014; 62 (8): 1890 18181897. doi: 10.1021 / jf405093f. [ PubMed ] [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  14. Ridet JL, Malhotra SK, Privat A., Gage FH Tế bào hình sao phản ứng: tín hiệu tế bào và phân tử đến chức năng sinh học. Xu hướng trong khoa học thần kinh . 1997; 20 (12): 570 cao577. doi: 10.1016 / S0166-2236 (97) 01139-9. [ PubMed ] [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  15. Reuss B., Dono R., Unsicker K. Chức năng của yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi (FGF) -2 và FGF-5 trong phân biệt astroglial và tính thấm hàng rào máu não: bằng chứng từ các đột biến chuột. Tạp chí khoa học thần kinh . 2003; 23 (16): 6404 Ném6412. [ PubMed ] [ Học giả Google ]
  16. Chen JP, Yan AL, Lam KY, et al. Một chiết xuất tiêu chuẩn hóa học của trái cây Ziziphus jujuba (táo tàu) kích thích sự biểu hiện của các yếu tố thần kinh và các enzyme chống oxy hóa trong tế bào hình sao nuôi cấy. Nghiên cứu tế bào học . 2014; 28 (11): 1727 Từ1730. doi: 10.1002 / ptr.5202. [ PubMed ] [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  17. Ravni A., Vaudry D., Gerdin MJ, et al. Một con đường tín hiệu độc lập với protein kinase A phụ thuộc cAMP, trung gian phát sinh thần kinh thông qua Egr1 trong các tế bào PC12. Dược lý phân tử . 2008; 73 (6): 1688 Từ1708. doi: 10.1124 / mol.107.044792. [ Bài viết miễn phí PMC ] [ PubMed ] [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  18. Ginty DD, Bonni A., Greenberg ME Yếu tố tăng trưởng thần kinh kích hoạt protein kinase phụ thuộc Ras kích thích sao chép c-fos thông qua quá trình phosphoryl hóa CREB. Tế bào . 1994; 77 (5): 713 trận725. doi: 10.1016 / 0092-8674 (94) 90055-8. [ PubMed ] [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  19. Chen JP, Chan PH, Lam CTW, et al. Fruit of Ziziphus jujuba (Jujube) ở hai giai đoạn trưởng thành: phân biệt bằng cách đánh giá hồ sơ chuyển hóa và đánh giá sinh học. Tạp chí Hóa học Nông nghiệp và Thực phẩm . 2015; 63 (2): 739 Từ744. doi: 10.1021 / jf5041564. [ PubMed ] [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  20. Chen JP, Li Z., Maiwulan Giang M., et al. Dong TTX, Tsim KWK Đánh giá hóa học và sinh học của trái cây Ziziphus jujuba từ Trung Quốc: nguồn địa lý khác nhau và các giai đoạn phát triển. Tạp chí Hóa học Nông nghiệp và Thực phẩm . 2013; 61 (30): 7315 Điện7324. doi: 10.1021 / jf402379u. [ PubMed ] [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  21. Yoo K.-Y., Li H., Hwang IK, et al. Zizyphus làm giảm thiệt hại do thiếu máu cục bộ ở hà mã gerbil thông qua tác dụng chống oxy hóa của nó. Tạp chí thực phẩm thuốc . 2010; 13 (3): 557 bóng563. doi: 10.1089 / jmf.2009.1254. [ PubMed ] [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  22. Li M., Wang Y. Phạm vi so sánh của hai giống Ziziphus jujuba . Tạp chí dược liệu Trung Quốc . 1993; 16 (6): 35 trận37. [ Học giả Google ]
  23. Li B., Wang L., Liu Y., et al. Hồng táo thúc đẩy học tập và trí nhớ trong mô hình chuột bằng cách tăng nồng độ estrogen trong máu và nồng độ oxit nitric và acetylcholine trong não. Y học thực nghiệm và trị liệu . 2013; 5 (6): 1755 Từ1759. doi: 10.3892 / etm.2013.1063. [ Bài viết miễn phí PMC ] [ PubMed ] [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  24. Pahuja M., Mehla J., Reeta KH, Joshi S., Gupta YK Chiết xuất thủy lực của Zizyphus jujuba cải thiện các cơn co giật, stress oxy hóa và suy giảm nhận thức trong các mô hình thí nghiệm về bệnh động kinh ở chuột. Động kinh & Hành vi . 2011; 21 (4): 356 Từ363. doi: 10.1016 / j.yebeh.2011.05.013. [ PubMed ] [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  25. Rabiei Z., Rafieian-Kopaei M., Heidarian E., Saghaei E., Mokhtari S. Tác dụng của Zizyphus jujube trích xuất lên trí nhớ và suy giảm khả năng học tập do tổn thương điện hai bên của hạt nhân meynert ở chuột. Nghiên cứu hóa học thần kinh . 2014; 39 (2): 353 Hình360. doi: 10.1007 / s11064-013-1232-8. [ PubMed ] [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  26. Heo H.-J., Park Y.-J., Suh Y.-M., et al. Tác dụng của oleamide đối với choline acetyltransferase và các hoạt động nhận thức. Khoa học sinh học, Công nghệ sinh học và Hóa sinh . 2003; 67 (6): 1284 Từ1291. doi: 10.1271 / bbb.67.1284. [ PubMed ] [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  27. Tian JS, Gao S., Cui YL, Wang QS, Liu LP, Zhang ZG Hàm lượng AMP tuần hoàn với sự thay đổi thời gian sau khi uống chiết xuất Fructus Jujubae ở chuột. Tạp chí Trung Quốc về các công thức y học cổ truyền truyền thống . 2010; 16 (7): 102 bóng104. [ Học giả Google ]
  28. Zare-Zardini H., Tolueinia B., Hashemi A., Ebrahimi L., Fesahat F. Hoạt tính ức chế chất chống oxy hóa và cholinesterase của một peptide mới từ trái cây Ziziphus jujuba . Tạp chí Mỹ về bệnh Alzheimer và chứng mất trí nhớ khác . 2013; 28 (7): 702 trận709. doi: 10.1177 / 1533317513500839. [ PubMed ] [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  29. Lin MT, Rối loạn chức năng ty thể Beal MF và stress oxy hóa trong các bệnh thoái hóa thần kinh. Thiên nhiên . 2006; 443 (7113): 787 Từ795. doi: 10.1038 / thiên nhiên05292. [ PubMed ] [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  30. Murphy TH, De Long MJ, Coyle JT Tăng cường NAD (P) H: Quinone Reductase Hoạt động ngăn chặn độc tính Glutamate được tạo ra bởi stress oxy hóa. Tạp chí Thần kinh học . Năm 1991; 56 (3): 990 Phiên bản 1995. doi: 10.111 / j.1471-4159.1991.tb02019.x. [ PubMed ] [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  31. Lee JM, Calkins MJ, Chan K., Kan YW, Johnson JA Xác định các gen phụ thuộc yếu tố 2-yếu tố liên quan đến NF-E2 tạo ra sự bảo vệ chống lại stress oxy hóa trong tế bào hình sao vỏ não nguyên phát bằng cách sử dụng phân tích microarray oligonucleotide. Tạp chí Hóa học sinh học . 2003; 278 (14): 12029 Phiên12038. doi: 10.1074 / jbc.m211558200. [ PubMed ] [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  32. Yeung W.-F., Chung K.-F., Poon MM-K., Et al. Đơn thuốc của thảo dược Trung Quốc và lựa chọn các huyệt trong điều trị y học cổ truyền Trung Quốc dựa trên mô hình cho chứng mất ngủ: một tổng quan hệ thống. Bằng chứng bổ sung và thuốc thay thế dựa trên bằng chứng . 2012; 2012 : 16. đổi: 10.1155 / 2012/902578. 902578 [ Bài viết miễn phí PMC ] [ PubMed ] [ CrossRef ] [ Google Scholar ]
  33. Dey A., Dey A. Phyt Liệu pháp chống mất ngủ: tuyên bố ngông cuồng hay một loại thuốc thay thế? Tạp chí Khoa học Sinh học Pakistan . 2013; 16 (3): 148 Pha150. doi: 10,3923 / pjbs.2013.148.150. [ PubMed ] [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  34. Peng W.-H., Hsieh M.-T., Lee Y.-S., Lin Y.-C., Liao J. Anxiolytic của hạt giống Ziziphus jujuba trong mô hình chuột của sự lo lắng. Tạp chí Dân tộc học . 2000; 72 (3): 435 bóng441. doi: 10.1016 / s0378-8741 (00) 00255-5. [ PubMed ] [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  35. Jiang J.-G., Huang X.-J., Chen J., et al. So sánh tác dụng an thần và thôi miên của flavonoid, saponin và Polysaccharide được chiết xuất từ ​​Semen Ziziphus Jujube. Nghiên cứu sản phẩm tự nhiên . 2007; 21 (4): 310 Kho320. doi: 10.1080 / 14786410701192827. [ PubMed ] [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  36. Bạn Z.-L., Xia Q., Liang F.-R., et al. Ảnh hưởng đến sự biểu hiện của tiểu đơn vị thụ thể GABAA bằng jujuboside Một điều trị trong các tế bào thần kinh vùng đồi thị chuột. Tạp chí Dân tộc học . 2010; 128 (2): 419 Pha423. doi: 10.1016 / j.jep.2010.01.034. [ PubMed ] [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  37. Liu Z., Zhao X., Liu B., et al. Jujuboside A, một tác nhân bảo vệ thần kinh từ Semen Ziziphi Spinosae cải thiện các rối loạn hành vi của mô hình chuột mất trí nhớ gây ra bởi A β 1−42 . Tạp chí Dược học Châu Âu . 2014; 738 : 206 Cáp213. doi: 10.1016 / j.ejphar.2014.05.041. [ PubMed ] [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  38. Zhang Y., Qiao L., Song M., Wang L., Xie J., Feng H. Hplc-ESI-MS / MS phân tích chiết xuất tan trong nước từ Ziziphi Spinosae Semen và tác dụng cải thiện của việc học và hiệu suất bộ nhớ ở chuột. Tạp chí dược điển . 2014; 10 (40): 509 bóng516. doi: 10,4103 / 0973-1296,141777. [ Bài viết miễn phí PMC ] [ PubMed ] [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  39. Chi YF, Zhang Z. Thuốc chống vi trùng được điều chế từ nguyên liệu cAMP hồng táo . Châu Âu: CA 2707192; 2009. [ Học giả Google ]
  40. Choi S.-H., Ahn J.-B., Kim H.-J., et al. Những thay đổi về hàm lượng axit amin, protein và flavonoid tự do trong trái cây hồng táo ( Ziziphus hồng táo ) trong tám giai đoạn tăng trưởng và tác dụng ức chế tế bào ung thư và chống oxy hóa bằng chiết xuất. Tạp chí Hóa học Nông nghiệp và Thực phẩm . 2012; 60 (41): 10245 Từ10255. doi: 10.1021 / jf302848u. [ PubMed ] [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  41. Pang THH, Ip FCF, Ip NY Sự phát triển gần đây trong việc tìm kiếm thuốc chống trầm cảm hiệu quả bằng cách sử dụng thuốc y học cổ truyền Trung Quốc. Đại lý hệ thống thần kinh trung ương trong hóa dược . 2008; 8 (1): 64 Hàng71. doi: 10.2174 / 187152408783790659. [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  42. Chen FP, Jong MS, Chen YC, et al. Đơn thuốc của thảo dược Trung Quốc cho chứng mất ngủ ở Đài Loan trong năm 2002. Thuốc bổ sung và thuốc thay thế dựa trên bằng chứng . 2011; 2011 : 9. doi: 10.1093 / ecam / nep018. 236341 [ Bài viết miễn phí PMC ] [ PubMed ] [ CrossRef ] [ Google Scholar ]
  43. Rogóz Z., Legutko B. Điều trị kết hợp với imipramine và metyrapone gây ra biểu hiện gen yếu tố thần kinh não hippocampal và vỏ não ở chuột. Báo cáo dược lý . 2005; 57 (6): 840 trận844. [ PubMed ] [ Học giả Google ]
  44. Schmidt HD, Duman RS Vai trò của các yếu tố thần kinh trong sự hình thành thần kinh vùng đồi thị trưởng thành, phương pháp điều trị chống trầm cảm và mô hình động vật của hành vi giống như trầm cảm. Dược lý hành vi . 2007; 18 (5-6): 391 bóng418. doi: 10.1097 / FBP.0b013e3282ee2aa8. [ PubMed ] [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  45. Yan YM Ảnh hưởng của Jiawei Gaimai Dazao Tang đối với biểu hiện BDNF ở chuột hippocampus tuyệt vọng. Chiết Giang Tạp chí Traditioanl Trung Quốc . 2010; 45 (8): 604 Hình605. [ Học giả Google ]
  46. Lam CT, Gong AG, Lam KY, et al. Các loại thuốc thảo dược có chứa hồng táo gây ra sự biệt hóa tế bào thần kinh và sự biểu hiện của các enzyme chống oxy hóa trong các tế bào PC12 nuôi cấy. Tạp chí Dân tộc học . 2016; 188 : 275 Từ283. doi: 10.1016 / j.jep.2016.05.015. [ PubMed ] [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  47. Zhu JT, Choi RC, Chu GK, et al. Flavonoid có tác dụng bảo vệ thần kinh trên các tế bào PC12 pheochromocytoma nuôi: một so sánh của flavonoid khác nhau trong việc kích hoạt hiệu ứng estrogen và trong việc ngăn ngừa β tế bào chết -amyloid gây ra. Tạp chí Hóa học Nông nghiệp và Thực phẩm . 2007; 55 (6): 2438 Từ2445. doi: 10.1021 / jf063299z. [ PubMed ] [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  48. Xu SL, Bi CW, Choi RC, et al. Flavonoid gây ra sự tổng hợp và bài tiết các yếu tố thần kinh trong tế bào hình sao chuột nuôi cấy: Một phản ứng tín hiệu qua trung gian thụ thể estrogen. Bằng chứng bổ sung và thuốc thay thế dựa trên bằng chứng . 2013; 2013 : 10. đổi: 10.1155 / 2013/127075. 127075 [ Bài viết miễn phí PMC ] [ PubMed ] [ CrossRef ] [ Google Scholar ]
  49. Li R., Guo M., Zhang G., Xu X., Li Q. Neuroprotection nicotiflorin trong thiếu máu não cục bộ vĩnh viễn và trong nuôi cấy tế bào thần kinh. Bản tin sinh học và dược phẩm . 2006; 29 (9): 1868 Từ1872. doi: 10.1248 / bpb.29.1868. [ PubMed ] [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  50. Huang J.-L., Fu S.-T., Jiang Y.-Y., et al. Tác dụng bảo vệ của Nicotiflorin trong việc giảm rối loạn chức năng trí nhớ, thất bại trong chuyển hóa năng lượng và stress oxy hóa ở chuột mô hình sa sút trí tuệ đa vùng. Dược lý Hóa sinh và Hành vi . 2007; 86 (4): 741 trận748. doi: 10.1016 / j.pbb.2007.03.003. [ PubMed ] [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  51. Wang L.-E., Bai Y.-J., Shi X.-R., et al. Spinosin, một flavonoid C-glycoside từ Semen Zizhiphi Spinozae, ngủ do pentobarbital gây ra thông qua hệ thống serotonergic. Dược lý Hóa sinh và Hành vi . 2008; 90 (3): 399 Hàng403. doi: 10.1016 / j.pbb.2008.03.022. [ PubMed ] [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  52. Wang L.-E., Cui X.-Y., Cui S.-Y., et al. Tác dụng tiềm tàng của spinosin, một flavonoid C-glycoside của Semen Ziziphi Spinosae, trên giấc ngủ do pentobarbital gây ra có thể liên quan đến thụ thể 5-HT1A sau synap. Tế bào thực vật . 2010; 17 (6): 404 cạn409. doi: 10.1016 / j.phymed.2010.01.014. [ PubMed ] [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  53. Cheng G., Bai Y., Zhao Y., et al. Flavonoid từ Ziziphus jujuba Mill. var. rau bina . Tứ diện . 2000; 56 (45): 8915 cường8920. doi: 10.1016 / s0040-4020 (00) 00842-5. [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  54. Schmidt AP, Lara DR, De Faria Maraschin J., Da Silveira Perla A., Souza DO Guanosine và GMP ngăn ngừa co giật do axit quinolinic gây ra ở chuột. Nghiên cứu về não . 2000; 864 (1): 40 Hàng43. doi: 10.1016 / S0006-8993 (00) 02106-5. [ PubMed ] [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  55. Urushitani M., Inoue R., Nakamizo T., Sawada H., Shibasaki H., Shimoween S. Tác dụng bảo vệ thần kinh của GMP theo chu kỳ chống độc tính triệt để ở các tế bào thần kinh vận động cột sống nuôi cấy. Tạp chí nghiên cứu khoa học thần kinh . 2000; 61 (4): 443 bóng448. doi: 10.1002 / 1097-4547 (20000815) 61: 4 <443 :: AID-JNR11> 3.0.CO; 2-W. doi: 10.1002 / 1097-4547 (20000815) 61: 4 <443 :: AID-JNR11> 3.0.CO; 2-W. [ PubMed ] [ CrossRef ] [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  56. Cyong J.-C., Hanabusa K. Cyclic adenosine monophosphate trong trái cây của Zizyphus jujuba . Hóa sinh . 1980; 19 (12): 2747 Từ2748. doi: 10.1016 / S0031-9422 (00) 83955-2. [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  57. Hanabusa K., Cyong J., Takahashi M. Mức độ cao của AMP tuần hoàn trong mận táo tàu. Meda Planta . 1981; 42 (08): 380 Từ384. doi: 10.1055 / s-2007-971659. [ PubMed ] [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  58. Liu M., Wang Y. nội dung cAMP của Zizyphus jujuba Mill., Zizyphus spinosus Hu. và mười hai nhà máy làm vườn khác. Tạp chí Đại học Nông nghiệp Hà Bắc . Năm 1991; 14 (4): 20 trận23. [ Học giả Google ]
  59. Chen X., Wang YX, Zheng LY, He XH, Han NY Xác định đồng thời rutin và jujuboside B trong Ziziphus jujuba bằng HPLC. Dược Trung Quốc . 2010; 21 (3): 247 Từ248. [ Học giả Google ]
  60. Cao J.-X., Zhang Q.-Y., Cui S.-Y., et al. Tác dụng thôi miên của jujubosides từ Semen Ziziphi Spinosae. Tạp chí Dân tộc học . 2010; 130 (4): 163 Kho166. doi: 10.1016 / j.jep.2010.03.023. [ PubMed ] [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  61. Wang X., Ma G., Xie J., Pang G. Ảnh hưởng của JuA trong việc gợi lên những thay đổi giao tiếp giữa ruột non và mô não của chuột và mức độ phiên mã của thụ thể GABA A và GABA B của các tế bào thần kinh đồi thị. Tạp chí Dân tộc học . 2015; 159 : 215 Từ223. doi: 10.1016 / j.jep.2014.11.012. [ PubMed ] [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  62. Chen JP, Lam CTW, Li ZG, et al. Ngày Trung Quốc: Một loại thực phẩm chức năng truyền thống . Abingdon: Báo chí CRC; 2016. Đánh giá hóa học và sinh học của trái cây Ziziphus jujuba (hồng táo ) từ Trung Quốc của các nguồn địa lý khác nhau và các giai đoạn phát triển: thành phần hóa học và các mục tiêu khả thi trong việc phát triển các sản phẩm thực phẩm sức khỏe; trang 83 bóng97. [ Học giả Google ]
  63. Chevallier A. Một hướng dẫn tuyệt vời cho hơn 500 loại dược liệu nổi tiếng từ khắp nơi trên thế giới . Luân Đôn, Vương quốc Anh: Dorling Kindersley; 1996. Bách khoa toàn thư về cây thuốc. [ Học giả Google ]
  64. Ebrahimi S., Ashkani-Esfahani S., Poormahmudi A. Điều tra hiệu quả của Ziziphus jujuba trên bệnh vàng da sơ sinh. Tạp chí Nhi khoa Iran . 2011; 21 (3): 320 Hàng24. [ Bài viết miễn phí PMC ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]
  65. Naftali T., Feingelernt H., Lesin Y., Rauchwarger A., ​​Konikoff FM Ziziphus jujuba trích để điều trị táo bón vô căn mãn tính: một thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát. Tiêu hóa . 2009; 78 (4): 224 Từ228. doi: 10.1159 / 000190975. [ PubMed ] [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  66. Sabzghabaee AM, Khayam I., Kelishadi R., et al. Tác dụng của trái cây Ziziphus jujuba đối với rối loạn lipid máu ở thanh thiếu niên béo phì: một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có kiểm soát ba mặt nạ. Lưu trữ y tế . 2013; 67 (3): p. 156. doi: 10,5455 / medarh.2013.67.156-159. [ PubMed ] [ CrossRef ] [ Học giả Google ]
  67. Mi D., Wang Y., Li MR Nghiên cứu về chiết xuất cAMP từ trái cây của Ziziphus . Tạp chí của Đại học Sư phạm Thượng Hải (Khoa học Tự nhiên) 2007; 36 (3): 77 Hàng79. [ Học giả Google ]
  68. Pan J., You FH, Wu FR, Yang Y. Hiệu suất hấp thụ và tách nhựa macroporeticular cho cAMP từ Ziziphus jujuba . Tạp chí Phiên bản Khoa học Tự nhiên của Đại học An Huy . 2007; 31 (5): 87 Hàng90. [ Học giả Google ]
  69. Xue ZP, Feng WH, Cao JK, Cao DD, Jiang WB Hoạt động chống oxy hóa và tổng hàm lượng phenolic trong vỏ và bột giấy của hồng táo Trung Quốc ( Ziziphus jujuba Mill.). Tạp chí hóa sinh thực phẩm . 2009; 33 (5): 613 Từ629. doi: 10.111 / j.1745-4514.2009.00241.x. [ CrossRef ] [ Học giả Google ]

Nguồn bài viết: https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC5478819/

Người dịch: Phạm Minh Nguyệt

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Hotline: 0975 04 03 06